Không phải tất cả các hợp đồng giao kết đều có giá trị pháp lý và được thực hiện. Căn cứ vào quy định tại Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể xác định hợp đồng dân sự vô hiệu theo các trường hợp sau đây:
1. Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm năng lực chủ thể
Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”. Năng lực hành vi dân sự là khả năng nhận thức hành vi, làm chủ hành vi của họ khi tham gia giao dịch dân sự. Năng lực hành vi của mỗi cá nhân lại phụ thuộc vào độ trưởng thành về thể chất và nhận thức của mỗi cá nhân.
Điều 125 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý. Do đó, hợp đồng dân sự do các đối tượng trên xác lập sẽ có thể rơi vào một trong hai trường hợp:
Một, hợp đồng dân sự vô hiệu khi người đại diện của người đó có yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu khi hợp đồng đó buộc phải có sự đồng ý của người đại diện khi họ xác lập, thực hiện thì Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự đó vô hiệu. Tuy nhiên, nếu người đại diện của những người này đồng ý, hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Hai, hợp đồng vẫn còn giá trị pháp lý nếu không thuộc trường hợp bắt buộc phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.
2. Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể
Thứ nhất, hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự sẽ được quyền tham gia giao kết hợp đồng dân sự với tư cách là chủ thể độc lập, tự chịu trách nhiệm về những hành vi do mình thực hiện.
Thứ hai, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn. Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:“Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”.
Thứ ba, hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo. Căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể hiểu giao dịch dân sự do giả tạo là giao dịch dân sự được xác lập hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, nhưng sự bày tỏ ý chí bên trong với sự thể hiện ý chí ra bên ngoài của các bên lại không thống nhất dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu.
Thứ tư, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa. Khi hợp đồng có yếu tố lừa dối, bên bị lừa dối không cần phải chứng minh điều kiện nào khác, mà có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu.
3. Hợp đồng dân sự vô hiệu do mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Như vậy, về nguyên tắc, trong bất kể trường hợp nào, hợp đồng dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội thì vô hiệu.
4. Hợp đồng vi phạm điều kiện bắt buộc về hình thức của hợp đồng.
Điều 177 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận hình thức là một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Khoản 2, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định về hình thức giao dịch dân sự bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Về nguyên tắc hình thức không phải là điều kiện bắt buộc để cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý. Tức là hợp đồng chỉ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức nếu trong Bộ luật Dân sự hoặc luật khác quy định cụ thể về hình thức xác lập hợp đồng đó.
5. Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được
Khoản 1, Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trong trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”. Đối tượng của hợp đồng có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện. Là tài sản thì tài sản đó phải có thực, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật chấp nhận đối tượng của hợp đồng là vật chưa có trong hiện tại nhưng chắc chắn sẽ có trong tương lai (tài sản hình thành trong tương lai). Đối tượng là công việc thì công việc phải thực hiện được.
Xem thêm :